Giới Thiệu

(LĐCT) - Đến nay, câu khẩu hiệu "Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt" đã trở thành một định hướng đang được xã hội quan tâm. Và đông đảo dư luận đã vào cuộc nhưng có vẻ chưa biết bắt đầu từ đâu.

Cách đây dăm năm, cá ba sa của nước ta đang bị thị trường Hoa Kỳ gây sự, mà suy cho cùng là những người nuôi cá bên kia Thái Bình Dương tìm cách gây sức ép với Chính phủ nước họ dùng hàng rào thuế quan và pháp lý để ngăn cản cá từ đồng bằng Nam Bộ nước ta lội biển sang làm tổn hại lợi ích của họ, cho dù nó mang lại cho bàn ăn của nước Mỹ một thức ăn ngon lại rẻ hơn cá bản địa.

Không lẽ Chính phủ họ chỉ bảo vệ người sản xuất mà ít quan tâm đến người tiêu dùng! Vì thế mà Hội Tiêu dùng của họ lại trở thành đồng minh với ta trong cuộc tranh đấu cho con cá ba sa Việt Nam trở lại với bàn ăn người Mỹ. Hỏi kỹ thì người ta giải thích rằng  những người nuôi cá bên Mỹ họ ép nghị sĩ rồi nghị sĩ ép chính phủ phải vào cuộc...

Hồi đó, nghĩ ngợi về chuyện này, mình cứ băn khoăn tự hỏi tại sao mình vẫn chưa bao giờ được ăn loại cá này cho dù nó được nuôi đại trà ngay trên đất nước mình. Đến một quán ăn, thấy trong thực đơn có món cá "saba", nghĩ tưởng chỉ là lỗi chính tả. Gọi món thì té ra đây lại là loại cá nhập từ Nhật Bản, ăn cũng ngon nhưng giá không rẻ chút nào.

Như thế có nghĩa là con cá ba sa ngay từ khi được nuôi nó đã được cấp visa để xuất ngoại rồi cho dù nó cũng chẳng phải "sơn hào hải vị" mà cũng chỉ là một thức bình dân.

Khi đó tôi có viết một bài báo "chê" dân Mỹ dại không chịu ăn thì tại sao ta không để cho dân mình hay dân các nước khác ăn. Bây giờ thì những người nuôi cá basa đã tìm ra nhiều thị trường ngoài nước Mỹ, nhưng dường như vẫn chưa thật phổ biến trên mâm cơm nước mình.

Đến nay, câu khẩu hiệu "Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt" đã trở thành một định hướng đang được xã hội quan tâm. Chính phủ không thể là người khởi xướng vì nó dễ hiểu lệch là bảo hộ hàng trong nước và đối xử không bình đẳng với hàng nước ngoài, vi phạm những cam kết kể từ khi ta vào WTO. Nhưng Chính phủ vẫn mạnh tay bước đầu chi cả nửa trăm tỉ cho việc xúc tiến mở rộng thị trường nội địa. Mặt trận Tổ quốc cũng vào cuộc như một cuộc vận động xã hội hướng vào tinh thần yêu nước...

Và đông đảo dư luận đã vào cuộc nhưng có vẻ chưa biết bắt đầu từ đâu. Bởi ai cũng thấy rằng về căn bản sức cạnh tranh của ta còn kém phản ánh vào sản phẩm nội hoá là chất lượng kém, giá cả cao và viêc quảng bá còn hạn chế... Và hơn thế cái tâm lý sùng hàng ngoại đã có từ lâu.

Nhớ lại chuyện xưa, cách đây đúng môt thế kỷ, ở nước ta đã diễn ra  một cuộc vận động "tẩy chay hàng nước ngoài". Bắt nguồn vụ việc có thể là từ cách làm của người Ấn Độ. Họ không thích chuyện bạo lực nên theo gương ông Thánh Cam Địa (M.Ganghi) chủ truơng đấu tranh ôn hoà, bất bạo động. Họ mở phong trào "tẩy chay"(boycots) hàng của nước Anh là xứ đang cai trị họ  và chọn sử dụng hàng nội hoá cũng để khích lệ tầng lớp tư sản bản địa đang trưởng thành trên cả thương trường và chính trường.

Lan sang nước ta nó thành khẩu hiệu "Để chế Bắc Hoá" (Tẩy chay hàng hoá của phương Bắc), không nhằm vào hàng của Tây, kẻ đang cai trị, bòn rút tài nguyên nước mình, mà lại hướng vào hàng của Tàu đang cạnh tranh với hàng mình. Kích thích cho cuộc vận động này người ta hay nhắc đến cái hình ảnh "Gánh vàng đi đổ sông Ngô" để tác động vào tâm lý dân chúng...

Nhưng cũng rất nhanh, các nhà Duy Tân đầu thế kỷ trước đã tỉnh táo nhận ra kẻ đứng đằng sau cuộc vận động này lại chính là chính quyền thực dân nhằm đánh lạc huớng tinh thần dân tộc Việt Nam. Một vài cuộc xung đột diễn ra giữa hai cộng đồng Việt-Hoa  cũng khiến chính quyền thực dân giật mình mà ra lệnh chấm dứt... ủng hộ cuộc vận động này...



Nhưng các nhà Duy Tân không dừng lại mà hướng nó vào cuộc vận động chấn hưng nội hoá. Tự thân Phan Châu Trinh - linh hồn của cuộc vận động Duy Tân - cũng quảng bá cho hàng nội hoá. Cụ đã chọn loại đũi dệt bằng tơ tằm của xứ Quảng  may bộ cánh (complet) tân thời để mặc mà đương thời được gọi là "mốt Tây Hồ" (tên chữ của cụ Phan). Chính  cụ Thục trưởng Đông Kinh Nghĩa Thục - cụ cử Lương Văn Can - đã khởi xướng "Đạo làm giàu" trong đó cụ vạch ra một trong những tập tính xấu của chính những doanh nhân Việt Nam lại là "coi khinh nội hoá".

Cái tinh thần chấn hưng nội hoá này đã mang lại một phong khí cho các doanh nghiệp Việt. Ông Bạch Thái Bưởi để cạnh tranh với các hãng của cả Tây lẫn Tàu trên lĩnh vực vận tải đường sông  không chỉ đóng tàu mới, đặt cho con tàu của mình những cái tên làm phấn chấn lòng người như "Bạch Đằng"," Đinh Tiên Hoàng" v.v...

Để tăng cường chất lượng dịch vụ, hãng tàu của ông chủ họ Bạch chu cấp miễn phí "bánh giò" cho khách điểm tâm để cạnh tranh với "bánh bao" trên những con tàu của người Hoa, hay bánh mì của người Tây.

Rồi ông còn sáng tác những ca từ giới thiệu công ty và lịch trình các tuyến tàu để cho những gánh hát sẩm quảng bá nơi đầu chợ cuối sông... Hồi ấy duờng như cũng không ai đề ra khẩu hiệu "người Việt dùng hàng Việt".

Từ chuyện xưa trở lại với chuyện nay, cái mục tiêu "người Việt ưu tiên hàng Việt" còn e còn khó hơn xưa. Thế giới đã nằm trên một mặt phẳng rồi, ngồi một chỗ nhìn thấy cả thế giới, muốn mua hàng ở đâu cũng được chỉ qua một cái "ckick" máy tính mà thôi. Giá cả cũng rõ ràng lại thêm các chiêu thức kích thích người mua, chiều chuộng khách hàng e rằng người sản xuất hàng hoá ở ta khó mà theo kịp...

Lòng yêu nước không chỉ có tự hào suông. Chẳng ai chấp nhận dùng đồ kém phẩm chất lại đắt giá để thể hiện nghĩa vụ tinh thần đối với quốc gia. Đừng nói đến những thị trường cao cấp, ngay cả đến thị trường nông thôn lâu nay thả nổi, nơi có sức mua tuy không lớn nhưng lại có số lượng khổng lồ chiếm hơn 70% của một quốc gia có dân số đứng thứ 13 thế giới, thì hàng Việt cũng chưa hẳn có ưu thế khi tiếp cận. Người nông dân thu nhập ít càng chắt chiu khi lựa chọn cho khoản chi ít ỏi của mình.

Có lần, một cử tri khi bàn về chủ đề này đưa ra một ý nghĩ tựa như một lời chất vấn: Nếu các nhà lãnh đạo chấp nhận chỉ chữa bệnh trong nước và cho con em mình học trong nước thì chắc chắn nền y tế và giáo dục trong nước sẽ chấn hưng? Do vậy, nếu quý vị ấy mà sẵn sàng sử dụng hàng nội thì chắc chắn hàng nội sẽ lên ngôi.

Mới hôm nay, báo đang tin nhạc sĩ Trần Văn Khê đặt câu hỏi vì sao ta không có "quốc tửu" và trên diễn đàn Quốc hội, một đại biểu đưa ra sự việc một doanh nghiệp nước ngoài đã kiếm lời không biết bao nhiêu mà kể bằng cách lách vào những kẽ hở quản lý của chúng ta. Doanh nghiệp ấy từng đưa ra một cái "slogan" rất dễ mủi lòng: "Tôi yêu Việt Nam"... Có biết bao điều đáng nghĩ ngợi để làm cho người Việt Nam yêu hàng Việt Nam.

Cách đây không lâu, tôi được dự một lễ kỷ niệm một doanh  nghiệp ở Bình Dương thành đạt trên lĩnh vực các loại nước giải khát. Doanh nghiệp này đã từng hỗ trợ cho giới trẻ Việt Nam chinh phục ngọn núi Everest cao nhất thế giới. Giờ đây họ đưa ra ý tưởng bắt nguồn từ ý tứ: Cái gì cao hơn đỉnh Everest? Chỉ có thể là Thượng đế. Và Thượng đế chính là ý niệm khi nói về khách hàng.

Vậy, chinh phục khách hàng chính là lẽ sống của doanh nghiệp. Cách tiếp cận ấy gợi cho chúng ta liên hệ đến cái mục tiêu "Ngườì Việt  ưu tiên dùng hàng Việt" để nhận ra cái phải làm chính là "Hàng Việt chinh phục người Việt".


Dương Trung Quốc
Bún PDF. In Email

 

Bún là một trong những món ăn quen thuộc của người dân Việt Nam từ rất lâu.

Bún thường được sử dụng một cách rộng rãi và đa dạng với nhiều thực phẩm

khác trong những dịp lễ, tết, đám tiệc, và trong các bữa ăn hằng ngày. Bún

còn là thành phần quan trọng không thể thiếutrong một số món ăn đặc sản

của Việt Nam được du khách nước ngoài rất ưa chuộng món gỏi cuốn.

 

 Hiện nay, bún đã có mặt không những ở những nơi bình dân hay vỉa hè mà đã

bước vào trong các nhà hàng sang trọng, tạo cảm giác mới mẻ khi thưởng thức

các món ẩm thực Việt Nam. Do đó, bún ở Việt Nam vừa là món ăn sang trọng,

vừa là món ăn bình dân. Bún có nhiều tên gọi khác nhau (dựa vào cách tạo

hình) như bún rối, bún nắm, bún lá, bún đếm trăm (loại bún lá nhưng nhỏ

như con hến, bán từng trăm).

 

Mỗi miền, mỗi vùng dân cư, thậm chí mỗi nhà hàng lại có món bún khác nhau về

thành phần thực phẩm, cách chế biến, chủng loại gia vị, bí quyết nhà nghề để có

tên gọi riêng, cách ăn riêng, hương vị riêng rất đặc trưng của từng xứ sở. Bún

được dùng để chế biến rất nhiều món ăn như bún thịt nướng hay bún chả, bún

nem, bún ốc, bún thang, bún riêu, bún mọc, bún bò giò heo và bún cá.

 

2. Quy trình sản xuất:

alt

3 Thuyết minh quy trình

 

3.1 Nguyên liệu gạo

 Nguyên liệu dùng để sản xuất bún là gạo tẻ. Cần lựa chọn gạo tẻ loại tốt đảm

bảo các yêu cầu sau:

  • Gạo tẻ ngon

  • Không bị mốc

  • Không có sâu, mọt

  • Tỷ lệ tạp chất dưới 0,1%

 Trước khi đưa vào sản xuất, gạo cần phải được sàng sẩy để loại bớt một phần

tạp chất nhẹ và cát sỏi, sau đó đem vo, đãi kỹ bằng nước sạch. Sau khi làm

sạch, nguyên liệu (gạo) phải không còn lẫn tạp chất nhất là kim loại, đá sỏi, cao su...

 

alt

3.2 Ngâm

  Gạo sau khi làm sạch được ngâm trong nước sạch khoảng 3 giờ. Sau giai đoạn này, gạo sẽ được làm mềm nhờ hút được một lượng nước nhất định để khi xay

bột sẽ mịn và dẻo hơn. Cần phải dùng đủ lượng nước để ngâm ngập toàn bộ

khối gạo.

 

3.3 Nghiền ướt (xay)

Quá trình nghiền có thể được làm bằng tay bằng cách cho một muỗng gạo

đã ngâm và một muỗng nước sạch vào cối nghiền, nghiền đến khi gạo mịn

và tạo thành dịch bột trắng. Công đoạn này có thể được cơ giới hoá để tiết

kiệm thời gian và tăng công suất bằng cách sử dụng máy nghiền 2 thớt kiểu

đứng hoặc nằm. Gạo được nghiền cùng với lượng nước vừa đủ qua lưới lọc

2.400 lỗ/cm2, tạo thành dạng bột mịn, làm cho bột dễ tạo hình, chóng chín và

tăng độ dai cho sợi bún sau này.

 

alt

 

3.4 Loại bỏ nước

Giúp nhanh chóng chuyển từ dạng dung dịch bột loãng sau nghiền thành

dạng bột ẩm, có thể nắn được thành cục. Quá trình làm ráo nước có thể

thực hiện trong bể, thúng tre hoặc trong hộc gỗ có lót vải lọc.

 

alt

 

3.5 Hồ hoá

Khi xử lý nhiệt tinh bột trong nước đến nhiệt độ hồ hoá thì sẽ xảy ra hiện

tượng hồ hoá tinh bột, là hiện tượng tinh bột hút nước, trương nở, tăng

thể tích và khối lượng lên gấp nhiều lần.

 

Nhiệt độ hồ hoá của mỗi loại tinh bột khác nhau, phụ thuộc vào tỉ lệ của

các cấu tử amylose và amylopectin cấu thành tinh bột, hình dạng và kích

thước hạt tinh bột. Hạt tinh bột gạo có hình dạng đa giác hàm lượng amylose

trung bình khoảng 17%, khả năng trương nở ở 95oC khoảng 19 lần, nhiệt độ

hồ hoá của hạt tinh bột gạo khoảng 67 -78oC. Kết quả của quá trình hồ hóa,

hỗn hợp tạo thành khối paste (dạng sệt) giống như gel.

 

Công đoạn hồ hoá được tiến hành như sau: Cho một nửa khối bột đã được

làm ráo vào trong nồi nước đang sôi (lượng nước sôi sử dụng bằng với lượng

bột cho vào). Trong quá trình nấu, cần khuấy đều và liên tục dịch bột đảm bảo

cho khối bột được nấu kỹ. Quá trình nấu kết thúc khi dịch bột được hồ hoá

hoàn toàn (dịch bột trở nên đặc, dẻo và trở nên trong hơn).

 

3.6 Phối trộn

Dịch bột sau khi hồ hoá được làm nguội, sau đó được trộn với một nửa lượng

bột còn lại. Quá trình phối trộn có thể được thực hiện bằng máy khuấy hoặc

bằng tay.

alt

 

 3.7 Tạo hình:

 Cho khối bột sau khi phối trộn vào khuôn bún. Khuôn bún có dạng hình trụ tròn

hoặc dạng hình chữ nhật, mặt đáy bịt tấm lưới có nhiều lỗ nhỏ, đường kính của

lỗ thường là 3 mm. Dùng lực ép khối bột trong ống xuống sao cho các sợi bột

đi qua lỗ lưới càng dài càng tốt.

 

alt

Việc tạo hình là lợi dụng tính chất tạo sợi của tinh bột. Các sợi tinh bột sau

khi hồ hóa có khả năng tạo sợi khi được ép qua một khuôn có đục lỗ.

 

3.8 Nấu

Khuôn thường được đặt bên trên nồi nước đang sôi để sợi bột sau khi qua

lỗ lưới được nhúng ngay vào nồi nước đang sôi bên dưới. Khuấy tròn nước

trong nồi theo một chiều trong lúc nấu để tránh hiện tượng các sợi bún

rối và dính vào nhau. Thời gian nấu khoảng 1 phút. Quá trình nấu nhằm mục

đích cung cấp nhiệt cho các phân tử tinh bột trong khối bột (đặc biệt là các

phân tử tinh bột chưa được hồ hoá trong công đoạnn trước) hút nước, trương

nở và hồ hoá (làm cho sợi tinh bột chín hoàn toàn). Trong nước sôi, sợi bún

tách rời nhau, ổn định cấu trúc sợi và làm chín tinh bột.

 

3.9 Làm nguội

 

Sợi bún sau khi nấu phải được vớt ra và làm nguội ngay bằng nước nguội

sạch. Làm nguội nhằm làm các sợi tinh bột sắp xếp lại và ổn định tính chất tạo

sợi của chúng, điều này giúp cho sợi bún được dai hơn. Quá trình làm nguội

phải nhanh nhằm ngăn chặn hiện tượng hồ hoá tiếp tục của sợi bún, gây ra

hiện tượng thoái hoá mặt ngoài sợi tinh bột tránh làm sợi bún bị mềm và dễ

gãy. Sau khi làm nguội và làm ráo, ta thu được bún thành phẩm. Thông thường

1kg gạo làm ra được 3kg bún.

 

alt

 

4. Thành phần dinh dưỡng của bún

 

Bún là loại thực phẩm cung cấp nguồn tinh bột cho con người. Tinh bột có vai

trò dinh dưỡng đặc biệt quan trọng vì trong quá trình tiêu hoá, tinh bột bị

thuỷ phân thành đường glucose - là chất cung cấp nguồn năng lượng (calo)

chính cho hoạt động sống của con nguời. Ngoài ra, trong bún còn chứa một

lượng đáng kể các vitamine nhóm B và khoáng chất (đặc biệt là calcium và

sắt).

 

Thành phần

Đơn vị

Tính trên 100g

Năng lượng

 

Kcal

 

112

Nước

g

72,0

Protein tổng số

g

1,7

Gluxit tổng số

g

25,7

Xenluloza

g

0,5

Calcium (Ca)

mg

12,0

Phosphor (P)

mg

32.0

Sắt (Fe)

mg

0,2

Vitamin B1

mg

0,04

Vitamin B2

mg

0,01

Theo vaas.org.vn

 

Số Lượng Trực Tuyến

Hiện có 8 khách Trực tuyến

Số Lượng Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay43
mod_vvisit_counterHôm qua191
mod_vvisit_counterTuần này723
mod_vvisit_counterTuần rồi2262
mod_vvisit_counterTháng này8430
mod_vvisit_counterTháng rồi7838
mod_vvisit_counterTổng cộng239095

Quảng Cáo

 

Trung Tâm Giao Dịch:

51/21 Lê Quang Sung, P.2, Q.6, Tp HCM

Tel: 08.39695682/35070078- Fax: 08.62931418

Email: thucpham_vietsan@yahoo.com